Tìm kiếm
NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG: GÓC NHÌN TỪ TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
 19/10/2017

 

                 Năng suất lao động (NSLĐ) phản ánh năng lực tạo ra của cải, hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm hay lượng giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. NSLĐ thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất; là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã xác định “Chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp”, đồng thời đã đưa ra phương hướng trong thời gian tới là “Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế” [1].

             Trong doanh nghiệp, NSLĐ cũng được các nhà quản lý coi trọng bởi tác động mạnh vào yếu tố này sẽ tạo động lực thúc đẩy sự phát triển. Tổ chức công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp, doanh nghiệp trả lương cho cán bộ công đoàn cơ sở và hoạt động vì mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp được xem là mô hình đặc thù của Việt Nam so với các nước trên thế giới. Yếu tố tác động trực tiếp đến sự thay đổi về năng suất đó chính là người lao động, hay nói cách khác là những đoàn viên công đoàn. Trong nhiều năm qua, Chính phủ và chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực để cải thiện môi trường đầu tư nhưng vẫn chưa thỏa mãn nhu cầu của doanh nghiệp. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã xác định rõ mục tiêu xây dựng Chính phủ mới trong nhiệm kỳ của mình, đó là “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân”[3].

              

            Môi trường bên ngoài thúc đẩy sự thay đổi về năng suất chủ yếu là sự thay đổi của chính quyền địa phương trong cách nhìn nhận đối với doanh nghiệp, đó là hướng đến phương thức phục vụ, kiến tạo, làm cho các doanh nghiệp. Nói một cách khác, năng suất lao động của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố như việc sắp xếp lao động khoa học, công nghệ, nhân lực, chính sách của địa phương … Đối với nội tại doanh nghiệp thì người sử dụng lao động thông qua tổ chức công đoàn tại cơ sở để vận động, thúc đẩy người lao động, đoàn viên công đoàn hoàn thành và vượt định mức lao động, đặc biệt là giải quyết được vấn đề tăng lương phải thấp hơn tăng NSLĐ tại doanh nghiệp, tức là giải quyết được vấn đề tốc độ tăng NSLĐ phải cao hơn tốc độ tăng tiền lương tại doanh nghiệp. Ở khía cạnh của tổ chức công đoàn, năng suất lao động mà tổ chức công đoàn có thể tham gia đó là cùng với doanh nghiệp tác động đến nguồn nhân lực, cải thiện nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bảo đảm cho nhân lực trong doanh nghiệp ngày càng được cải thiện, đáp ứng được các yêu cầu sản xuất đặt ra trong từng thời kỳ. Cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế, NSLĐ của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, khoảng cách tương đối về NSLĐ với các nước ASEAN được thu hẹp dần. Tuy nhiên, NSLĐ của nước ta hiện vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực. Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do quy mô kinh tế còn nhỏ, xuất phát điểm thấp [2].

Bảng 1. Năng suất lao động trong các loại hình DN Đvt: Triệu đồng

Chỉ tiêu:                                     2001 2007 2011 2012 2013 Ước 2014

Tổng số:                                     61,5 129,9 247,8 263,8 269,1 281,4

Doanh nghiệp Nhà nước            69,8 217,4 521,3 728,8 734,9 732,5

Doanh nghiệp ngoài Nhà nước 32,2 86,5 174,6 171,9 153,9 168,2

Doanh nghiệp FDI                   104,1 132,0 254,1 242,5 301,8 317,4

 (Nguồn: Tổng Cục thống kê, 2016)

         Cả nước có hơn 10,5 triệu lao động được đào tạo trong tổng số 52,9 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm năm 2015, chiếm 19,9%. Như vậy, có tới 80,1% tổng số lao động chưa được đào tạo để đạt trình độ chuyên môn kỹ thuật nào đó. Chất lượng lao động có sự chênh lệch rõ nhất giữa khu vực nông thôn và thành thị. Ở thành thị lao động đã được đào tạo chiếm 36,3%, trong khi ở nông thôn chỉ có 12,6%. Đây chính là rào cản lớn cho việc cải thiện NSLĐ. [2]

   Bảng 2. Thay đổi về NSLĐ trong khu vực doanh nghiệp theo trình độ, kỹ năng người lao động

- Đặc điểm lao động  Tỷ trọng trong tổng số lao động của khu vực doanh nghiệp Thay đổi NSLĐ so với nhóm lao động chưa qua đào tạo khi tăng 1% lao động của mỗi nhóm (%) Tổng số 100.0 Lao động chưa qua đào tạo 24.3

- LĐ được đào tạo nhưng không có chứng chỉ 25.7 0.04

- Lao động có chứng chỉ sơ cấp nghề 9.9 0.16

- Lao động có bằng trung cấp, cao đẳng 19.9 0.19

- Lao động có bằng đại học trở lên 14.8 0.22

- Lao động có chứng chỉ khác 5.4 0.13

(Nguồn: Tổng Cục thống kê, 2016)

        Yếu tố NSLĐ được tổ chức Công đoàn xác định là một trong những nội dung để công đoàn tham gia và đồng hành cùng doanh nghiệp. Năm 2017, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã xác định: “Các cấp công đoàn vận động, phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức nâng cao tay nghề cho công nhân lao động để nâng cao năng suất lao động và làm cơ sở tạo việc làm bền vững, tăng thu nhập cho người lao động” [4].

        Thực tế đặt ra cho các CĐCS tại các doanh nghiệp rằng, sự nỗ lực của tập thể lãnh đạo công ty để tạo ra càng nhiều doanh thu càng tốt, và doanh nghiệp coi đây là một trong những tiêu chuẩn để duy trì và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Tiêu chuẩn này được doanh nghiệp làm căn cứ xây dựng định mức và NSLĐ cho người lao động, thông qua tiền lương mà người lao động nhận được. Cán bộ công đoàn các cấp, nhất là cấp cơ sở cần xem xét và lựa chọn để tham gia cùng với doanh nghiệp để bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên. Thông thường, tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc xây dựng các mối quan hệ về chính sách trong công ty có liên quan đến quyền, lợi ích của NLĐ ít được tham khảo ý kiến của đại diện tập thể người lao động. Chính vì vậy, các chính sách này ít được người lao động ủng hộ dẫn đến mức độ cống hiến của NLĐ chưa cao làm cho NSLĐ tại doanh nghiệp chưa đạt được sự mong muốn của DN. Thước đo cho NSLĐ tại DN được xác định bằng tiền lương mà NLĐ nhận được hàng tháng, kể cả những khoản tiền thưởng hoặc thu nhập của NLĐ nhận được từng thời kỳ và mức tiền lương đó chưa bảo đảm cuộc sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ. CĐCS trong các DN, trong nhiều nội dung hoạt động cần quan tâm đến nội dung này. Bởi đây là nội dung quan trọng để cùng đồng hành với DN và cải thiện thu nhập của NLĐ. Do vậy, tạo môi trường làm việc an toàn, thường xuyên huấn luyện tay nghề và chế độ đãi ngộ xứng đáng để người lao động nâng cao năng suất lao động là công việc trọng tâm của doanh nghiệp. Việc tham gia của Công đoàn tác động, làm thay đổi năng suất lao động một cách tích cực để hạn chế sự tổn thương của người lao động trong quan hệ lao động tại cơ sở.

                                                                                                                                                                    Thái Tiến Dũng

          Tài liệu tham khảo: [1] Đảng cộng sản Việt Nam, “Báo cáo chính trị tại ĐH Đảng toàn quốc lần thứ XII,” Hà Nội, 2015.

                                        [2] Tổng Cục Thống kê, “Năng suất lao động của Việt Nam: Thực trạng và giải pháp,” Hà Nội, 2016.

                                    [3] Bộ Tư pháp, "Đổi mới thực hiện XD Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ Nhân dân," Hà Nội, 2016.

                                       [4] Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, "Kế hoạch tổ chức Tháng Công nhân năm 2017," Hà Nội, 2017.

Các tin khác
Xem tin theo ngày