Tìm kiếm
Một số chế độ mới cần lưu ý đối với NLĐ làm việc theo HĐLĐ
 01/12/2009

Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH về Hợp đồng lao động

1. Về chế độ đối với người giao kết HĐLĐ với người đang hưởng lương hưu và người làm việc dưới 3 tháng:

- Nội dung giao kết HĐLĐ với người đang hưởng lương hưu hàng tháng và người làm việc có thời hạn dưới 03 (ba) tháng thì ngoài tiền lương theo công việc, người lao động còn được người sử dụng lao động thanh toán các khoản tiền tính theo tỷ lệ phần trăm (%) so với tiền lương theo HĐLĐ, trong đó trích nộp BHXH tăng theo thời kỳ cụ thể là từ ngày Thông tư 17/2009/TT-BLĐTBXH có hiệu lực đến 12/2009 là 15%; từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2011 là 16%; từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2013 là 17%; từ tháng 01/2014 trở đi là 18%.

- Tiền Bảo hiểm y tế (2%): Khi Chính phủ quy định tăng mức đóng BHYT đối với người sử dụng lao động thì thực hiện theo quy định của Chính phủ.

- Nghỉ hàng năm (4%).

- Tiền tàu xe đi lại khi nghỉ hàng năm do hai bên thỏa thuận trong HĐLĐ.

2. Về cách tính và chi trả trợ cấp thôi việc:

Tiền trợ cấp thôi việc    =    Tổng thời gian làm việc tại DN tính trợ cấp thôi việc    x    Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc    x    1/2

Thời gian tính trợ cấp thôi việc phải trừ đi thời gian đóng Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Nghị định 127/2008/NĐ-CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ.

Thời gian làm tròn được tính như sau:

- Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng làm tròn thành 1/2 năm.

- Từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng làm tròn thành 1 năm.

Tiền lương làm căn cứ để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ, được tính bình quân 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ, gồm tiền lương hoặc tiền công cấp bậc, chức vụ, phụ cấp chức vụ, phục cấp khu vực (nếu có).

Người lao động thực hiện nhiều HĐLĐ tại một doanh nghiệp mà khi chấm dứt từng HĐLĐ chưa thanh toán trợ cấp thôi việc thì doanh nghiệp cộng thời gian làm việc theo các HĐLĐ để tính trợ cấp thôi việc cho người lao động. Trường hợp, có HĐLĐ do người lao động đơn phương chấm dứt trái pháp luật thì thời gian làm việc theo hợp đồng đó không được tính trợ cấp thôi việc
Người lao động có thời gian làm việc theo chế độ biên chế và có cả thời gian làm việc theo HĐLĐ thì cộng cả hai loại thời gian này để tính trợ cấp thôi việc.

Người lao động làm việc ở nhiều công ty nhà nước do chuyển công tác trước ngày 01/01/1995 thì trợ cấp thôi việc được tính theo thời gian làm việc ở từng công ty nhà nước. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc cho người lao động ở từng doanh nghiệp là tiền lương, tiền công theo HĐLĐ được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ ở công ty nhà nước cuối cùng. Công ty nhà nước cuối cùng có trách nhiệm chi trả toàn bộ số tiền trợ cấp thôi việc cho người lao động, kể cả phần trợ cấp thôi việc thuộc trách nhiệm chi trả của công ty nhà nước mà người lao động đã làm việc trước khi chuyển công tác trước ngày 01/01/1995, sau đó gửi thông báo theo mẫu số 3 của TT 17/2009/TT-BLĐTBXH để yêu cầu hoàn trả số tiền đã được chi trả hộ. Trường hợp công ty nhà nước được chi trả hộ đã chấm dứt hoạt động thì ngân sách nhà nước hoàn trả số tiền trợ cấp thôi việc đã được chi trả hộ theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Trường hợp sau khi sát nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản doanh nghiệp mà người lao động chấm dứt HĐLĐ, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm cộng cả thời gian người lao động làm việc cho mình và thời gian làm việc cho người sử dụng lao động liền kề trước đó để tính trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi chấm dứt HĐLĐ cuối cùng.

Đối với công ty nhà nước thực hiện phương án sắp xếp lại hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu (chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, cổ phần hóa, giao, bán) thì áp dụng theo quy định của Nhà nước đối với các trường hợp này.
Xem tin theo ngày