Tìm kiếm
BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG CHƯƠNG TRÌNH DS-KHHGĐ Ở THỪA THIÊN HUẾ
 07/03/2014

            Bình đẳng giới là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Việc thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam nói chung và Thừa Thiên Huế nói riêng đã đạt được kết quả quan trọng: khoảng cách bất bình đẳng giới trong lao động, việc làm, thu nhập không ngừng được rút ngắn; số phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực kinh tế chính trị, văn hoá, xã hội tăng lên nhiều. Cùng với sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, vai trò và địa vị của người phụ nữ ở Thừa Thiên Huế ngày càng được nâng cao. Theo báo cáo sơ kết ba năm (2011-2013) thực hiện kế hoạch hành động Bình đẳng giới tỉnh Thừa Thiên Huế thì Tỷ lệ nữ lãnh đạo ở các cấp tăng lên. Tính đến hết năm 2012, tỷ lệ lao động có việc làm là nữ giới chiếm 45,5%. Theo số liệu thống kê của Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh, đến cuối năm học 2011-2012, toàn ngành Giáo dục và Đào tạo có 61% nữ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ thạc sĩ... Trong đó chương trình DS-KHHGĐ cũng đạt những kết quả nhất định: việc thực hiện bình đẳng giới trong chương trình DS-KHHGĐ đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, thái độ và hành vi của người dân đối với việc thực hiện chương trình DS-KHHGĐ như: các chương trình, dự án đều xác định nam giới có vai trò không thể thiếu, là một trong những đối tượng đích của công tác truyền thông chuyển đổi hành vi về DS-KHHGĐ. Theo số liệu báo cáo về công tác DS-KHHGĐ tại tỉnh Thừa Thiên Huế, tỷ lệ sử dụng các BPTT của nam giới có chiều hướng tăng lên từ 19,4% năm 2010 lên 23,7% năm 2013; Tỷ lệ sử dụng bao cao su tăng từ 18,6% năm 2010 lên 23,0% năm 2013. Tỷ số giới tính khi sinh có xu hướng giảm năm 2011 là 113/100, năm 2012 là 113/100 và năm 2013 là 112,5/100.   

 

      

 

 

Tuy nhiên việc thực hiện bình đẳng giới hiện nay vẫn còn những khó khăn, trở ngại như: tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo ở các cấp còn ít, không đều, chưa bền vững, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy các cấp nhiệm kỳ 2010-2015 của tỉnh Thừa Thiên Huế là 811/4552 chiếm 17,8 %; tỷ lệ nữ giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý của tỉnh là 238/1079 người, chiếm 22,05%; Phân bố cơ cấu nam, nữ trong các ngành nghề cho thấy, nam giới vẫn thường chiếm tỷ lệ cao hơn ở những nhóm việc như công nhân, lãnh đạo, dịch vụ cá nhân, công việc chuyên môn kỹ thuật và lực lượng vũ trang. Phụ nữ thường chiếm tỷ lệ cao ở một số nhóm nghề khác như nông nghiệp, buôn bán nhỏ, nhân viên văn phòng; Nhìn chung, lãnh đạo tại một số cơ quan, đơn vị còn quan tâm một cách chung chung về vấn đề Bình đẳng giới và hoạt động Vì sự tiến bộ của phụ nữ. Nên các hoạt động này thường được giao cho Công đoàn và Công đoàn lại giao cho Ban Nữ công do các chị em phụ nữ đảm nhiệm; Trong gia đình, thì thời gian làm việc của phụ nữ thường dài hơn nam giới, phân công lao động trong gia đình ở nhiều vùng miền còn mang tính chất phân biệt theo giới rõ rệt và phụ nữ tham gia vào việc ra quyết định thấp hơn nam giới...

Trong chương trình DS-KHHGĐ việc thực hiện bình đẳng giới còn hạn chế do một bộ phận người dân vẫn còn suy nghĩ chuyện sinh đẻ và KHHGĐ là của phụ nữ. Nam giới chưa thật sự vào cuộc và chia sẻ trách nhiệm với phụ nữ, do đó dễ dàng nhận thấy tại các buổi tuyên truyền về DS-KHHGĐ, nam giới ít chủ động tham gia mà thường chỉ có nữ giới. Ngoài ra, do quan niệm sai lệch về vai trò của mình trong vấn đề DS-KHHGĐ nên nam giới nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, ven biển, đầm phá còn hạn chế kiến thức về DS-KHHGĐ. Theo báo cáo về công tác DS-KHHGĐ năm 2013 của tỉnh Thừa Thiên Huế thì tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng các BPTT hiện đại là 71,5%, trong đó có 23,7% người sử dụng là nam giới. Toàn tỉnh hiện có 7623 ca đình sản thì chỉ có 777 ca đình sản nam (10,2%). Tỷ lệ sử dụng bao cao su là 23,0%. Điều đáng quan tâm là phần lớn dân số Thừa Thiên Huế tập trung ở vùng nông thôn - nơi còn chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam hơn nữ nên phụ nữ ngoài sự vất vả của công việc, còn phải chịu áp lực từ phía người chồng, phía gia đình và cả xã hội, đặc biệt là những khó khăn trong việc quyết định hành vi sinh đẻ, khi chưa có con trai. Chính quan niệm này đã là một trong những rào cản trong việc triển khai chương trình DS-KHHGĐ tại tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian vừa qua, là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến gia tăng tình trạng MCBGTKS và con thứ 3 trở lên cao… Một số đơn vị có biểu hiện mất cân bằng giới tính khi sinh ở mức cao hơn trung bình của tỉnh năm 2013 là huyện Quảng Điền (131), Phú Lộc (114), thị xã Hương Trà,... Thừa Thiên Huế vẫn là một trong những địa phương chưa đạt mức sinh thay thế, tỷ lệ sinh con thứ 3 ở mức cao (16%) so với toàn quốc năm 2013.

          Trong thời gian qua để thực hiện tốt vấn đề bình đẳng giới trong chương trình DS-KHHGĐ thì hàng năm Chi cục DS-KHHGĐ thường xuyên phối hợp với Hội Nông dân và các đơn vị liên quan tổ chức các buổi tư vấn, các sự kiện truyền thông cho các nhóm đối tượng là nam giới. Xây dựng mô hình CLB Nam nông dân không sinh con thứ 3 trở lên, sản xuất và nhân bản tuyên truyền các sản phẩm truyền thông tuyên truyền về bình đẳng giới,... Phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh tổ chức truyền thông tư vấn về DS/SKSS cho công nhân, người lao động tại các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về DS/SKSS/KHHGĐ, triển khai ký cam kết CBCNVC không vi phạm chính sách DS-KHHGĐ nhưng những năm qua vẫn còn vi phạm, một số nơi xử lý chưa kịp thời nên ảnh hưởng đến phong trào chung.

Trước xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh ngày càng gia tăng tỉnh Thừa Thiên Huế đã có các giải pháp can thiệp kịp thời để kiểm soát việc mất cân bằng giới tính khi sinh tại địa phương. Kế hoạch hành động thực hiện chiến lược Dân số- sức khỏe sinh sản tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 đã đề ra mục tiêu giảm mạnh tốc độ tăng tỷ số giới tính khi sinh, đặc biệt tập trung vào các địa phương có tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng về tỷ số giới tính khi sinh, phấn đấu tỷ số giới tính khi sinh dưới mức 110-112/100 vào năm 2015 và dưới mức 108-110/100 vào năm 2020.

Năm 2011, được sự hỗ trợ của Trung ương, ngành Y tế - Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh đã kịp thời tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh sớm phê duyệt Đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh của tỉnh giai đoạn 2011-2015.

Đến nay, nhiều ban, ngành, đoàn thể của tỉnh cũng đã tích cực huy động hội viên, đoàn viên của mình và các chức sắc tôn giáo, những người có uy tín trong cộng đồng cùng chung tay tuyên truyền, can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh với nhiều mô hình, hoạt động phong phú như: Ủy ban MTTQVN tỉnh với mô hình "Gia đình đồng bào các tôn giáo tham gia khắc phục mất cân bằng giới tính khi sinh” nhằm phát huy vai trò, trách nhiệm của các vị chức sắc, chức việc và đồng bào các tôn giáo tham gia khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại địa phương có tín đồ các tôn giáo chiếm tỷ lệ hơn 60% dân số. Phối hợp với Hội LHPN các cấp xây dựng được 108/152 Câu lạc bộ phụ nữ có con 1 bề không sinh con thứ 3 trở lên giúp nhau phát triển kinh tế gia đình tại các xã phường, thị trấn; tổ chức hàng trăm buổi tuyên truyền pháp luật cho lãnh đạo cấp huyện, cấp xã và các  ban, ngành, đoàn thể liên quan. Phối hợp với Sở Thông tin Truyền thông, thanh tra Y tế tổ chức các đợt thanh kiểm tra các cơ sở y tế, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sách báo có liên quan đến lựa chọn giới tính thai nhi. Phối hợp với Sở Tư pháp, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban MTTQVN tỉnh đưa nội dung liên quan vào Hương ước, quy ước xây dựng làng, thôn, bản, tổ dân phố văn hóa,…

Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là một phần của các chương trình DS-KHHGĐ. Việc xây dựng và thực hiện tốt các chương trình DS-KHHGĐ với sự tham gia tích cực của cộng đồng cả nam và nữ đặc biệt nam giới và hướng đến nam giới tạo sự bình đẳng trong lĩnh vực DS-SKSS là một yêu cầu cần thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hạnh phúc gia đình và thực hiện thành công Chiến lược DS-SKSS giai đoạn 2011-2020.

Trong thời gian tới, để tạo sự bình đẳng hơn nữa trong chương trình DS-KHHGĐ chúng tôi có một số ý kiến đề nghị:

- Thực hiện tốt Luật bình đẳng giới và hoạt động Vì sự tiến bộ phụ nữ.

- Nâng cao hơn nữa vai trò trách nhiệm của lãnh đạo, cấp ủy Đảng, đoàn thể cơ quan trong viêc thực hiện các mục tiêu của Đảng, Nhà nước về Bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ

- Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, giải quyết gốc rễ tư tưởng trọng nam khinh nữ trong quan hệ thân tộc. Cụ thể việc thờ cúng tổ tiên cũng cần được đưa vào nội dung truyên truyền để người dân thấy rõ việc con gái hoàn toàn có thể đảm nhiệm việc chăm sóc cha mẹ khi về già, thờ cúng tổ tiên trong gia đình, thúc đẩy sự chấp nhận rộng rãi mô hình cư trú bên gia đình vợ, trong việc kế thừa gia sản cần chia đều cho con cái…

- Thúc đẩy bình đẳng giới và trao thêm quyền năng cho phụ nữ và trẻ em gái. Đặc biệt xây dựng và thực hiện các chính sách khuyến khích, hỗ trợ nhằm nâng cao vai trò, vị thế của trẻ em gái và phụ nữ nói chung, đặc biệt là trẻ em gái của các gia đình sinh con một bề.

             - Tạo mọi điều kiện thuận lợi để phụ nữ và trẻ em gái được tham gia vào lập kế hoạch, quyết định thực hiện đánh giá các chương trình DS-KHHGĐ. Nam giới cần thực hiện tốt các hoạt động chăm sóc SKSS, SKTD để cải thiện sức khỏe của phụ nữ và của chính bản thân mình 

                     Tôn Thất Chiểu- Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh 

 

 

 

Các tin khác
Xem tin theo ngày